Các điểm mới của Nghị định số 154/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Tiếp công dân
Ngày 15/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 154/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Tiếp công dân. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 và thay thế Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân số 42/2013/QH13 (Đã được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 136/2025/QH15).
Nghị định số 154/2026/NĐ-CP được ban hành nhằm cụ thể hóa các quy định mới của Luật Tiếp công dân, nhất là các nội dung liên quan đến tiếp công dân trực tuyến, trách nhiệm tiếp công dân của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, việc tổ chức tiếp công dân tại đơn vị sự nghiệp công lập, các trường hợp từ chối tiếp công dân, điều kiện bảo đảm cho hoạt động tiếp công dân và chế độ, chính sách đối với người làm công tác tiếp công dân.
Thứ nhất, bổ sung, làm rõ quy định về tiếp công dân trực tuyến.
Đây là một trong những điểm mới đáng chú ý, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số trong hoạt động quản lý nhà nước. Theo Nghị định, tiếp công dân trực tuyến là hình thức tiếp công dân được thực hiện thông qua môi trường điện tử, sử dụng thiết bị truyền hình trực tuyến, phần mềm ứng dụng và mạng Internet tại trụ sở tiếp công dân hoặc địa điểm tiếp công dân. Hình thức này cho phép người chủ trì tiếp công dân, người tham gia tiếp công dân và công dân tham gia tại các điểm cầu khác nhau nhưng vẫn bảo đảm theo dõi đầy đủ hình ảnh, âm thanh và sự tham gia trực tiếp của các chủ thể tại cùng một thời điểm.
Nghị định quy định việc tiếp công dân trực tuyến được thực hiện trên nền tảng công nghệ thông tin, thông qua hệ thống truyền hình trực tuyến hoặc các nền tảng số tập trung do Thanh tra Chính phủ hoặc cơ quan có thẩm quyền quản lý, vận hành. Hoạt động này phải bảo đảm đúng thủ tục, quy trình, thời gian, chất lượng tiếp công dân; đồng thời bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, bảo mật dữ liệu, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.
Thứ hai, quy định cụ thể các điều kiện bảo đảm tiếp công dân trực tuyến.
Việc tổ chức tiếp công dân trực tuyến phải bảo đảm điều kiện về hạ tầng kỹ thuật, công nghệ thông tin và tổ chức thực hiện. Hệ thống kỹ thuật phải có kết nối mạng ổn định; thiết bị, phần mềm phù hợp để tương tác trực tiếp giữa các điểm cầu; có chức năng ghi âm, ghi hình và lưu trữ đầy đủ diễn biến buổi tiếp công dân dưới dạng dữ liệu điện tử. Dữ liệu tiếp công dân trực tuyến có giá trị pháp lý như hồ sơ giấy khi được ký số hoặc xác thực theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử và chữ ký số.
Đáng chú ý, Nghị định quy định một số trường hợp có thể tổ chức tiếp công dân trực tuyến như: vụ việc khiếu nại, kiến nghị, phản ánh có tính chất phức tạp, kéo dài, cần sự phối hợp của nhiều cơ quan, tổ chức; vụ việc mà người khiếu nại, kiến nghị, phản ánh cư trú tại vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn hoặc thuộc đối tượng chính sách, người già yếu, người khuyết tật có nguyện vọng tiếp trực tuyến; vụ việc phát sinh trong tình huống thiên tai, dịch bệnh hoặc vì lý do an ninh, trật tự xã hội mà việc tiếp công dân trực tiếp gặp khó khăn.
Thứ ba, bổ sung quy định về tiếp công dân tại đơn vị sự nghiệp công lập.
Theo đó, đơn vị sự nghiệp công lập có liên quan đến việc giải quyết chế độ, chính sách, quyền lợi của công dân, tổ chức phải tổ chức tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh. Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có trách nhiệm bố trí viên chức làm nhiệm vụ tiếp công dân; ban hành nội quy, quy chế tiếp công dân; bảo đảm an toàn, trật tự cho hoạt động tiếp công dân; báo cáo tình hình, kết quả công tác tiếp công dân với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
Nghị định cũng quy định người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập phải trực tiếp tiếp công dân ít nhất 01 ngày trong 01 tháng tại địa điểm tiếp công dân của đơn vị mình; đồng thời thực hiện tiếp công dân đột xuất đối với vụ việc gay gắt, phức tạp, có nhiều người tham gia hoặc liên quan đến trách nhiệm của nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị. Đây là quy định góp phần nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu trong giải quyết kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo phát sinh từ thực tiễn hoạt động của đơn vị.
Thứ tư, quy định cụ thể hơn các trường hợp từ chối tiếp công dân.
Ngoài các trường hợp đã được Luật Tiếp công dân quy định, Nghị định bổ sung các trường hợp như: (1) người mang theo vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ hoặc vật dụng, chất nguy hiểm mà không chấp hành yêu cầu gửi tại nơi quy định; (2) người không chấp hành việc kiểm tra an ninh; (3) người tự ý ghi âm, ghi hình, phát trực tiếp tại nơi tiếp công dân trong trường hợp người chủ trì đã yêu cầu không ghi âm, ghi hình, phát trực tiếp để bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật đời tư, dữ liệu cá nhân, bảo vệ người tố cáo hoặc gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự; (4) người đại diện, người được ủy quyền nhưng không xuất trình được giấy tờ chứng minh tư cách đại diện hợp pháp; (5) vụ việc đang được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền khác thụ lý, giải quyết theo trình tự, thủ tục luật định;…
Nghị định yêu cầu việc từ chối tiếp công dân phải được thực hiện đúng căn cứ pháp luật, người tiếp công dân phải giải thích rõ lý do từ chối, không được lợi dụng việc từ chối tiếp công dân để né tránh trách nhiệm.
Thứ năm, làm rõ trách nhiệm trực tiếp tiếp công dân của người đứng đầu cơ quan, đơn vị.
Người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải trực tiếp tiếp công dân để lắng nghe, xem xét, giải quyết và chỉ đạo giải quyết các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thuộc thẩm quyền. Kết thúc việc tiếp công dân, ý kiến chỉ đạo của người đứng đầu phải được lập thành văn bản, gửi cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan để tổ chức thực hiện; đồng thời xác định thời gian giải quyết phù hợp với quy định của pháp luật và yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm giải quyết phải gửi kết quả giải quyết cho công dân.
Quy định này góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; đề cao trách nhiệm nêu gương, trách nhiệm giải trình của người đứng đầu trong công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.
Thứ sáu, quy định chính sách, chế độ đối với người tiếp công dân.
Người tiếp công dân được hưởng chế độ bồi dưỡng theo quy định; được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ tiếp công dân; người tiếp công dân thường xuyên tại trụ sở tiếp công dân được hưởng chế độ trang phục tiếp công dân. Người được điều động, phân công làm nhiệm vụ tiếp công dân hoặc trực tiếp phục vụ công tác tiếp công dân, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh cũng được hưởng chế độ bồi dưỡng theo quy định.
Việc ban hành Nghị định số 154/2026/NĐ-CP có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện cơ sở pháp lý về công tác tiếp công dân, bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân; đồng thời góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị và người đứng đầu trong tiếp công dân, xử lý đơn thư, giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh từ cơ sở.
Đối với các cơ quan, đơn vị, địa phương, việc nghiên cứu, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị định số 154/2026/NĐ-CP là yêu cầu cần thiết nhằm chuẩn bị đầy đủ điều kiện về tổ chức, nhân sự, cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin, quy trình nghiệp vụ và chế độ chính sách cho đội ngũ làm công tác tiếp công dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Nguồn: https://truongchinhtri.tayninh.dcs.vn/thong-tin-van-ban-phap-luat/cac-diem-moi-cua-nghi-dinh-so-154-2026-nd-cp-quy-dinh-chi-tiet-mot-so-dieu-va-bien-phap-to-chuc–186019
1900 05 55 59
ttpc@ktxhcm.edu.vn